Phân Chia Tài Sản Chung Của Vợ Chồng Theo Luật Hôn Nhân

Phân Chia Tài Sản Chung Của Vợ Chồng Theo Luật Hôn Nhân

Quyền tài sản là gì? Tài sản chung của vợ chồng là gì? Phân chia tài sản chung của vợ chồng theo luật hôn nhân gia đình như thế nào?

Phân chia tài sản chung của vợ chồng là vấn đề được quan tâm rất nhiều hiện nay. Việc phân chia tài sản chung này thường rất phức tạp và kéo dài. Tình trạng hôn nhân bế tắc dẫn đến gia tăng các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng cho thấy nhiều bất cập.

Vậy pháp luật đã có những quy định như thế nào về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng? Để giúp Quý Khách hàng nắm được các quy định hiện hành chúng tôi xin tổng hợp và cung cấp cho Quý Khách hàng các nội dung cụ thể dưới đây.

Tài sản chung của vợ chồng bao gồm những gì?
Tài sản chung của vợ chồng bao gồm những gì?

QUYỀN TÀI SẢN LÀ GÌ? TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG LÀ GÌ?

Hiện nay, tài sản chung của vợ chồng được định nghĩa tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 9 và Điều 10 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình. Theo đó:

– Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 sau:

Điều 40. Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

– Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung là như nhau.

– Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

– Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

– Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Căn cứ theo quy định trên và hướng dẫn tại Nghị định 126/2014/NĐ-CP, một số khái niệm được hiểu và giải thích như sau:

  1. Thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm: Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp tài sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân mà trong giấy chứng nhận quyền sở hữu; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên cả vợ và chồng thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở văn bản thỏa thuận của vợ chồng hoặc quyết định của Tòa án về chia tài sản chung.
  2. Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước. Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
  3. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng gồm: Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là sản vật tự nhiên mà vợ, chồng có được từ tài sản riêng của mình. Lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là khoản lợi mà vợ, chồng thu được từ việc khai thác tài sản riêng của mình.

Phân chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật hiện hành

Xuất phát từ việc lựa chọn chế độ tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khi chia tài sản chung, vợ chồng có thể lựa chọn việc phân chia theo các cách sau đây:

  1. Thỏa thuận phân chia tài sản chung;
  2. Phân chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật.

Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng được quy định và hướng dẫn chi tiết tại Luật hôn nhân và gia đình cùng các văn bản liên quan khác. Để giúp Quý Khách hàng nắm rõ hơn, chúng tôi xin trình bày chi tiết theo từng nội dung như sau:

Phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Việc chia tài sản chung của vợ chồng được quy định tại luật hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ, đặc biệt được quy định tại Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Quy định này chính là không ly hôn nhưng vẫn thỏa thuận chia tài sản. Theo đó:

  1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền tự thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp việc phân chia tài sản chung ảnh hưởng đến ích ích chung của gia đình, lợi ích hợp pháp của các con và để trốn tránh các nghĩa vụ như: nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ thuế với nhà nước,… nếu vợ chồng không tự thỏa thuận được về việc phân chia tài sản chung thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này phải được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. Đây là một nội dung quan trọng cần được lưu ý. Bởi lẽ, việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân không còn tránh xa lạ. Tuy nhiên để đảm bảo việc phân chia tài sản là phù hợp theo quy định pháp luật và có hiệu lực thì nên công chứng.
  3. Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được phân chia tài sản và có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng được giải quyết theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Phân chia tài sản chung của vợ chồng như thế nào?
Phân chia tài sản chung của vợ chồng như thế nào?

Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

  1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm cụ thể có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.
  2. Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.
  3. Trong trường hợp Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  4. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

  1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
  2. Thỏa thuận của vợ chồng không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

  1. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Hình thức của thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 38 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
  2. Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 33 và Điều 43 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
  3. Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
  4. Trong trường hợp việc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là vấn đề còn nhiều tranh cãi. Mặc dù Luật hôn nhân gia đình mới đã có quy định về những nguyên tắc và cách thức phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Tuy nhiên trên thực tế, khi ly hôn, vợ chồng có tranh chấp về tài sản thường là vấn đề phức tạp do các bên không đạt được thống nhất. Tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình quy định một số nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như sau:

Thứ nhất: Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Thứ hai: Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Thứ ba: Khi phân chia tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.

Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Thứ tư: Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật mà giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Thứ năm: Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật hôn nhân mới.

Trong trường hợp sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản tương ứng với công sức của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Thứ sáu: Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Tại Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình có những hướng dẫn chi tiết như sau:

– Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản.

Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:

– Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

– Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59 và các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

– Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét, giải quyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

– Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.

– Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

+ “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Bên gặp khó khăn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

+ “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.

Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

+ “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch.

Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng.

Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.

+ “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

– Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

– Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ví dụ: Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu.

Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

Phân chia tài sản sổ đỏ đứng tên riêng
Phân chia tài sản sổ đỏ đứng tên riêng

PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG SỐNG CHUNG VỚI GIA ĐÌNH THEO LUẬT PHÂN CHIA TÀI SẢN

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình.

Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

CHIA QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN THEO LUẬT CHIA ĐẤT TRONG GIA ĐÌNH

Thông thường, quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn và rất dễ xảy ra tranh chấp. Tuy nhiên việc phân chia quyền sử dụng đất lại không hề đơn giản.

Có nhiều lý do khác nhau khiến việc phân chia quyền sử dụng đất gặp khó khăn như: quyền sử dụng đất thường có nguồn gốc lâu đời, trải qua nhiều thế hệ sử dụng và quản lý, việc xác định nguồn gốc gặp nhiều khó khăn, luật chia tài sản gia đình chưa quy định hết các trường hợp trong thực tiễn…

Luật hôn nhân và gia đình quy định việc phân chia quyền sử dụng đất như sau:

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

+ Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo nguyên tắc chung khi phân chia tài sản của vợ chồng.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

+ Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định của pháp luật;

+ Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo các nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

+ Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Lưu ý:

  1. Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của bên đó; trong trường hợp vợ hoặc chồng gặp khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn không quá 06 (sáu) tháng kể từ ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân, trừ trường hợp các bên có thêm thỏa thuận khác.
  2. Vợ, chồng đang thực hiện các hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung của vợ chồng có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên còn lại phần giá trị tài sản mà họ được quyền hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có những quy định khác (Điều 64 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014).
  3. Trường hợp khi ly hôn, vợ chồng không có yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung. Sau khi đã ly hôn mà hai vợ chồng không thỏa thuận được phân chia tài sản thì việc phân chia tài sản sau hôn nhân vẫn áp dụng các nguyên tắc tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
  4. Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định về hôn nhân thực tế, khi có yêu cầu, chế độ tài sản cũng được giải quyết tương tự theo quy định của pháp luật.

CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT

Chia tài sản chung khi vợ hoặc chồng chết

Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết như sau:

  1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
  2. Khi có yêu cầu về việc phân chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
  3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu cơ quan Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.
  4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

Theo quy định trên, khi chồng chị bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì chị có quyền quản lý tài sản chung của vợ chồng hoặc chồng chị để lại di chúc có chỉ định người khác quản lý hoặc những người thừa kế thỏa thuận người quản lý. Nếu gia đình nhà nội chị yêu cầu chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng chị sẽ được chia đôi nếu trước đó vợ chồng không có thỏa thuận khác.

Tuy nhiên, trên thực tế, có một số trường hợp, sau khi bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà trở về thì quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về được giải quyết như sau:

  1. Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó;
  2. Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa được chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.

Tài sản của vợ chồng sở hữu khi còn sống để lại thì sẽ được chia theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.

Chia tài sản chung của vợ chồng chung sống trước ngày 3/1/1987

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc là vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết được coi là người đang có vợ hoặc có chồng.

Về vấn đề tài sản của những người chung sống với nhau như vợ chồng được giải quyết giống như các trường hợp có đăng ký kết hôn.

Các dịch vụ của chúng tôi về phân chia tài sản chung:

  1. Tư vấn các quy định pháp luật hôn nhân và gia đình bao gồm các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung; tư vấn và hỗ trợ xác định đâu là tài sản chung của vợ chồng,…trên cơ sở đó đưa các tư vấn, khuyến nghị để lựa chọn thời kỳ an toàn để phân chia tài sản, bảo đảm tối đa quyền và lợi ích của Quý Khách hàng.
  2. Hỗ trợ soạn thảo các văn bản, tài liệu liên quan để phân chia tài sản chung của vợ chồng bao gồm nhưng không giới hạn ở: mẫu đơn thỏa thuận chia tài sản, mẫu đơn xác nhận tài sản riêng,…và các văn bản khác theo yêu cầu, đề nghị của Quý Khách hàng.
  3. Đại diện theo ủy quyền cho Quý Khách hàng làm việc với đương sự, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Gặp gỡ làm việc tòa án, tham gia tố tụng giải quyết phân chia tài sản chung và các vấn đề phát sinh có liên quan đến việc phân chia tài sản chung của vợ chồng.

Hy vọng rằng, với các nội dung hữu ích trên đây sẽ giúp Quý Khách hàng nắm được các quy định của pháp luật liên quan đến tài sản chung và luật phân chia tài sản chung của vợ chồng.

Nếu còn bất cứ thắc mắc nào liên quan đến các quy định của pháp luật phân chia tài sản trong gia đình nói chung, các quy định về tài sản chung của vợ chồng nói riêng, hãy liên hệ ngay với Nhóm Chia Sẻ Ngành Luật để được hỗ trợ cụ thể.

Tư vấn sản phẩm
Xưởng Gấu Bông (Mr Lâm)

Xưởng Gấu Bông (Mr Lâm)

Mobile: XXXX.XXX.XXX

SP: Tạm Ngừng Để Set Up Xưởng

Xưởng Thêu Vi Tính Lê Dương (Mr Hùng)

Xưởng Thêu Vi Tính Lê Dương (Mr Hùng)

Mobile: XXXX.XXX.XXX

SP: Nhận Thêu - Thiết Kế Mẫu Toàn Quốc